Tình trạng vật giá leo thang trên toàn thế giới và mối lo ngại lạm phát

Linh

Tháng Mười Một 25, 2021

Dạo gần đây khi đi ra ngoài mua đồ cũng như khi đổ xăng, hẳn mọi người đều nhận ra rằng vật giá đang ngày một tăng cao. Không chỉ giá cả các thực phẩm thiết yếu như thịt, rau tăng mà việc giá xăng dầu “leo thang” những những ngày gần đây cũng đang trở thành chủ đề “nóng” trên bản tin thời sự, thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân. Hiện tượng giá cả hàng hoá “leo thang” những ngày gần đây không chỉ xảy ra ở riêng Việt Nam mà ở cả các quốc gia khác trên thế giới. 

Tình trạng vật giá leo thang trên toàn thế giới và mối lo ngại lạm phát

Khi nhu cầu lớn hơn nguồn cung, vật giá tăng cao đồng nghĩa doanh thu của công ty tăng kéo theo đó là mức lương và nhu cầu tiêu dùng của người lao động tăng cao. Đây có thể coi là một vòng lặp điển hình của quá trình lạm phát. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (World Bank), giá năng lượng năm 2021 dự kiến tăng hơn 80% so với cùng kỳ năm ngoái, tới năm 2022 giá năng lượng vẫn sẽ ở mức cao nhưng sẽ bắt đầu giảm từ nửa cuối năm 2022 trở đi khi nguồn cung dần trở nên ổn định. Ngoài ra, giá cả các mặt hàng phi năng lượng như nông sản hay kim loại, được dự đoán có chiều hướng giảm vào năm 2022 sau khi đã tăng mạnh ở nhiều khu vực trong năm 2021.

Khi nói tới nguyên nhân của tình trạng giá cả “leo thang” thời gian gần đây, có thể kể đến việc giá cả vật liệu thô tăng vọt trên khắp thế giới, nhu cầu tiêu dùng tăng thần tốc trở lại sau đại dịch Corona. Thêm vào đó, sức mua của người tiêu dùng tăng cao kéo theo việc nhu cầu vận chuyển hàng hoá và chi phí vận chuyển tăng cũng là một trong những nguyên nhân khiến tình hình giá cả “leo thang” chưa thể “hạ nhiệt”. Người ta gọi tình trạng này là “Lạm phát xấu” khi người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu và giảm bớt hứng thú với việc mua sắm khi mọi thứ đều đắt đỏ. Nhưng ngược lại, tình trạng này được gọi là “Lạm phát tốt” khi các doanh nghiệp cải thiện doanh thu và có chính sách tăng lương cho nhân viên, giúpkích cầu”, làm cho các hoạt động kinh doanh sôi nổi trở lại.

Tình trạng vật giá leo thang trên toàn thế giới và mối lo ngại lạm phát

Vậy câu hỏi đặt ra là, làm thế nào để có thể kiềm chế lạm phát? Một trong những biện pháp chính để cải thiện tình hình lạm phát là tăng lãi suất cho vay của ngân hàng trung ương tại các quốc gia. Lý do là bởi khi lãi suất cho vay tăng cao, doanh nghiệp và cá nhân sẽ khó vay vốn hơn, sự bùng nổ của các hoạt động kinh tế sẽ phần nào được tiết chế lại. Cùng với đó, doanh nghiệp và các cá nhân kinh doanh sẽ buộc phải đưa ra biện pháp giảm giá phù hợp. Trong quá khứ, từ tháng 5 năm 1989 đến tháng 8 năm 1990, Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã đưa ra chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách nâng lãi suất cho vay từ 2,5% lên 6% (lãi suất mà Ngân hàng trung ương Nhật Bản cho các ngân hàng bình thường vay tiền), để các doanh nghiệp khó huy động nguồn vốn và làm sụp đổ nền kinh tế bong bóng. Từ ví dụ điển hình này, người ta có thể thấy rằng việc ngân hàng tăng lãi suất cho vay có ảnh hưởng vô cùng lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc đưa ra các chính sách phù hợp để vừa có thể kiềm chế lạm phát, vừa bình ổn gíá cả hàng hoá và lãi suất cho vay là vô cùng cần thiết để cải thiện nền kinh tế.

Và cuối cùng, các doanh nghiệp cũng như người dân đều mong chờ động thái, chính sách từ chính phủ các quốc gia trong việc giải quyết bài toán “Làm cách nào để cải thiện nền kinh tế thế giới đang trở nên suy thoái như hiện nay?”

Linh

“Fintech” và sự bùng nổ ngoài dự đoán tại thị trường Việt Nam

Tháng Mười Một 19, 2021

“Fintech” và sự bùng nổ ngoài dự đoán tại thị trường Việt Nam

Trước hết, “Fintech” là một khái niệm mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Đây là một thuật ngữ tiếng anh kết hợp giữa Finance (tiền tệ, tài chính) và Technology (công nghệ), có thể hiểu chung là công nghệ tài chính.

Thuật ngữ “Fintech” đã xuất hiện kể từ năm 2008, nhưng phải đến khi thời đại công nghệ 4.0 lên ngôi như hiện nay, cụm từ này mới được sử dụng phổ biến. Kể từ khi “Fintech” xuất hiện, nó đã thay đổi hệ thống vận hành của hệ thống tài chính, ngân hàng, tiền tệ,… và tập trung cải thiện nhất ở lĩnh vực tài chính. Đây là một lĩnh vực hoàn toàn mới, có sức ảnh hưởng đến thị trường tài chính và toàn ngành ngân hàng nói chung.

“Fintech” và sự bùng nổ ngoài dự đoán tại thị trường Việt Nam

Vốn đầu tư của các công ty “Fintech” tại Việt Nam trong năm 2019 chiếm khoảng 36% thị trường Đông Nam Á dù cho trước đó năm 2018 con số này chỉ là 0%. Kể từ năm 2015, các công ty start-up mảng “Fintech” bắt đầu phát triển tại thị trường Việt Nam. Tại nhiều thành phố lớn của Việt Nam như Hà Nội và Hồ Chí Minh, các công ty start-up mảng “Fintech” này không chỉ nhận được sự chú ý của các bên hoạt động trong cùng lĩnh vực mà còn thu hút sự quan tâm từ cộng đồng.

Tuy nhiên, số lượng các công ty “Fintech” vẫn chỉ dừng lại ở mức khiêm tốn khi so sánh với các nước trong cùng khu vực. Theo thống kê về số lượng công ty “Fintech”, từ năm 2017 đến năm 2018, tại Singapore có hơn 490 công ty, tại Indonesia có 262 công ty và tại Malaysia có 196 công ty. Tại Việt Nam, Momo là công ty “Fintech” hiếm hoi được biết tới rộng rãi trên thị trường và lọt Top100 các công ty “Fintech” trên thế giới.

“Fintech” và sự bùng nổ ngoài dự đoán tại thị trường Việt Nam

Nói đến cuộc cải cách số hoá trong lĩnh vực ngân hàng, các ngân hàng cập nhật xu hướng chậm trễ sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Nhưng ngược lại, nếu những ngân hàng nhỏ với ít năng lực cạnh tranh có thể nắm bắt được cơ hội này nhanh chóng, đây có thể sẽ là một bước ngoặt để họ có cơ hội phát triển trong tương lai. Một khi ngân hàng bắt tay hợp tác cùng với các công ty “Fintech”, họ có thể tạo ra sức ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ và nâng cao độ phủ sóng của mình. Và trong 2 năm trở lại đây, một số ngân hàng của Việt Nam đã bắt đầu thực hiện mô hình hợp tác này để cải thiện chất lượng hệ thống vận hành.

“Fintech” và sự bùng nổ ngoài dự đoán tại thị trường Việt Nam

Người ta tin rằng việc ngân hàng hợp tác cùng các công ty “Fintech” là một xu hướng tất yếu trong thời buổi hiện tại, và trong khoảng 3 năm tới đây, xu hướng này sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ ở cả phương diện kỹ thuật hay hệ thống luật pháp,…

“Sốt” đất, chứng khoán, trái phiếu: NHNN nêu 10 yêu cầu cần làm ngay

Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ 10 dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng, qua đó yêu cầu các ngân hàng kiểm soát chặt về chất lượng tín dụng.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có Công văn số 3029 gửi các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) yêu cầu thực hiện nghiêm một số nội dung trong hoạt động.

Những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro

Cụ thể, qua theo dõi, giám sát tình hình hoạt động của năm 2020, NHNN nhận thấy một số TCTD có 10 dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro như: Nợ xấu nội bảng có xu hướng tăng so với cuối năm 2019; Tỷ lệ nợ xấu của một số công ty tài chính tiêu dùng ở mức cao và tăng lớn so với năm trước; Lãi phải thu từ hoạt động tín dụng tăng lớn so với cuối năm 2019.

Cùng với đó, tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng. Tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản cao. Đầu tư trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) nhằm mục đích xây dựng, kinh doanh bất động sản vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng đầu tư TPDN.

 

Một số ngân hàng thương mại có số dư đầu tư TPDN tăng lớn so với năm 2019. Trong đó, mức tăng thêm tập trung chủ yếu vào lĩnh vực xây dựng và kinh doanh bất động sản.

Các ngân hàng cũng cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh chứng khoán tăng lớn so với năm trước.

Chất lượng tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản, tín dụng phục vụ nhu cầu đời sống và dư nợ tín dụng qua thẻ tín dụng suy giảm mạnh so với cuối năm 2019.

Trong khi đó, nợ xấu cấp tín dụng đối với khách hàng lớn (doanh nghiệp có tổng mức cấp tín dụng từ 500 tỷ đồng trở lên) tăng so với cuối năm 2019. Lãi phải thu từ hoạt động tín dụng tăng đáng kể, dẫn đến việc chưa phản ánh thực chất kết quả kinh doanh của TCTD.

Một số TCTD chưa quyết liệt trong công tác thu hồi tối đa nợ xấu, nợ đã sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro đưa ra theo dõi ngoại bảng.